Trong khi truyền thông với vai
trò và nhiệm vụ là kiểm soát tin đồn, thì lúc này, lại gần như làm một
công việc ngược lại: “thổi phồng tin đồn”...
Chuyện “anh Mõ” và “cái loa”
Mỗi lần bật đĩa hài Xuân Hinh, xem trích đoạn “Lý trưởng Mẹ Đốp” là cháu tôi lại bắt chước câu rao của Mẹ Đốp (vợ anh Mõ): “Chiềng làng chiềng chạ / Thượng Hạ Tây Đông / Con gái Phú ông…”, rồi bật cười khanh khách.
Anh Mõ, nhân vật thường xuất hiện trong
các tích chèo cổ, thực tế là một người rất nghèo và bị dân làng coi
thường gọi bằng cái tên “thằng Mõ”. Người trong làng, từ người già đến trẻ con, gần như “quên mất” tên khai sinh của anh, cứ mặc nhiên gọi là “thằng Mõ” sau khi anh “nhận chức”… Mõ.
Có thể nói, thằng Mõ chính được xem là
phương tiện truyền thông sơ khai nhất trong xã hội cổ truyền Việt Nam.
Khi trong làng có việc gì từ ma chay đến cưới xin, thì thằng Mõ phải đi
khắp làng trên xóm dưới, vừa gõ mõ vừa rao để đưa thông tin đến bàn dân
thiên hạ; hay gọi dân làng đến tề tựu ở sân đình để nghe những tin tức
mới xảy ra trong làng…
Ảnh minh họa
Sau này, trẻ con và người lớn trở nên quen thuộc với một phương tiện truyền thông có độ “phóng đại âm thanh” và “độ phủ sóng” trên một phạm vi rộng hơn, đó là cái loa - loa phường, loa xã.
Giờ đây, mặc dù trong thời đại công nghệ
thông tin, internet, truyền hình kỹ thuật số… trở nên phổ quát với đại
đa số dân chúng, thì cái loa vẫn mang một ý nghĩa truyền tải
thông tin nhất định. Những thông tin được đưa đến người dân một xã,
phường, một thôn, một làng phần nhiều trong phạm vi của xã, phường,
thôn, làng ấy; và vì thế, dù có nhiều phương tiện kỹ thuật số xuất hiện
đi chăng nữa, nó vẫn có một vai trò “không thể thay thế” trong một cộng đồng người.
Xét ở một khía cạnh nào đó, anh Mõ và cái loa
đóng góp một phần rất lớn trong việc truyền tải thông tin. Mọi tin tức,
khi người dân tiếp nhận qua anh Mõ và cái loa - gần như đã được xử lý
qua cơ số người và cơ số khâu. Và do đó, họ - gần như - mặc nhiên tiếp
nhận đó là thông tin đúng, không còn thái độ bán tín bán nghi nữa.
Làm sao có khói khi không có lửa?
Từ câu chuyện “anh Mõ” và “cái loa” có nhiệm vụ truyền tải thông tin đến người dân, tôi lại nhớ tích chèo cổ Quan Âm Thị Kính, trong đó tiểu Kính Tâm, với nỗi oan thấu trời không thể giải cho đến khi xuống suối vàng cũng chỉ vì lời “cáo buộc” của Thị Mầu cùng với hệ thống tin đồn lan từ người này sang người khác.
Hay như chuyện một ông A, quan chức có tiếng trong cơ quan nhà nước, “cặp kè” với cô B, cô C. Có người bảo “tin đồn”, nghe làm gì? Nhưng người ta cũng lại được “giải thích” hoặc “tự giải thích trong đầu” rằng… “Không có lửa làm sao có khói”.
Ảnh minh họa: Khều
Như đã nói, “tin đồn” sẽ chỉ là “tin được đồn”
một cách đơn thuần, nếu như không có thêm sự đánh giá, phán xét, ý kiến
chủ quan của người tiếp nhận. Cứ qua một người, thông tin được nghe có
thể sẽ được xử lý, phân tích theo chiều hướng khác nhau. Như vậy, qua 10
người, 100 người, cấp độ tin đồn đó sẽ lan tỏa và sẽ - gần như - mặc
nhiên được công nhận là đúng. Vì sao?
“Không có lửa làm sao có khói”. Đó là câu thành ngữ vẫn được xem như một “nguyên lý” từ xưa đến nay, và nó gần như được áp dụng vào tất cả các tình huống. Đặc biệt, trong cơ chế tin đồn, thì “lửa” - “khói” - mối quan hệ nguyên nhân - hệ quả, là một cách người tiếp nhận dùng để “xử lý, phân tích” thông tin. Để rồi từ đó, dù cho “tôi nghe đồn…”, hay “bán tín bán nghi” đến cỡ nào chăng nữa, họ (người tiếp nhận) cũng cho rằng “có vẻ tin đó đúng” và tiếp tục quá trình… “truyền lại cho người khác”.
Khi tin đồn được truyền thông “thổi phồng”
Trong thời đại công nghệ số như hiện
nay, việc sử dụng internet với các diễn đàn, blog, cùng sự bùng nổ các
mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google+, YouTube… là các kênh giúp
tin đồn phổ biến nhanh chóng và dễ tác động đến người tiếp nhận thông
tin nhất.
Nếu như trước đây việc các tài khoản
mạng xã hội sử dụng thông tin thu lượm được từ báo chí, truyền thông và
đăng tải lên cho một nhóm bạn, hoặc nhiều người (với chế độ public)
biết, thì giờ đây việc truyền tải thông tin - một phần nào đó - đi theo
chiều ngược lại.
Với sự phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin, khi mỗi người dân đều có thể trở thành “người đưa tin”,
thì có một bộ phận phóng viên, nhà báo luôn xem các mạng xã hội, đặc
biệt là Facebook, là nơi cung cấp thông tin phong phú và… nhanh nhất.
Thay vì đi thực tế tác nghiệp, thì giờ
đây lướt web thu thập thông tin, xử lý, và sau đó đăng bài gần như trở
thành một phần việc của một bộ phận phóng viên, biên tập viên, nhất là
với những trang tin điện tử, thậm chí cả một số báo điện tử.
Tin đồn thất thiệt về các ngôi sao thường là thông tin được nhiều trang tin điện tử, nhiều báo "săn nhất" từ mạng xã hội.
Trong khi truyền thông với vai trò và nhiệm vụ là kiểm soát tin đồn, thì lúc này, lại gần như làm một công việc ngược lại: “thổi phồng tin đồn”,
xét ở một khía cạnh nào đó. Mặc dù có thể con số này không nhiều, nhưng
với tốc độ lan truyền thông tin chóng mặt, việc một trang tin, hay một
báo chính thống, đưa một thông tin chưa được kiểm chứng sẽ khiến cho những người được đọc, được tiếp nhận mặc định rằng tin đó rất có thể là sự thật. Đặc biệt, với những phóng viên, biên tập viên “lười xử lý”, họ còn bê nguyên thông tin trên mạng về mà không hề đặt câu hỏi nghi vấn, khiến cho đối tượng bị đồn có khả năng trở thành đối tượng thật trong một câu chuyện thật được đưa trên báo chí, truyền thông.
Và thực tế hiện nay, việc xác minh tính
chính xác của tin đồn thường chỉ được thực hiện sau khi thông tin được
đăng tải rộng rãi, bị dư luận hoặc người trong cuộc phản ứng, các cơ
quan chức năng yêu cầu đính chính.
Thế nhưng, dù vậy, “được vạ thì má đã sưng”. Sau
khi được đính chính, cải chính, hoặc thậm chí được xin lỗi, thì đối
tượng bị đồn đã bị ảnh hưởng không ít, thậm chí không chỉ uy tín, danh
tiếng, thương hiệu của một cá nhân, hay một tập thể bị suy giảm, mà có
thể còn thiệt hại cả về kinh tế và… mạng sống. Đó là còn chưa kể đến
những trang tin chưa bị “sờ gáy” vẫn “nghiễm nhiên” lưu tin, và sau một vài năm, rất có thể, lại được những trang tin khác “sử dụng lại”.
Một câu hỏi đặt ra là, nên chăng, mỗi
nhà báo, phóng viên, biên tập viên, trước khi lấy một thông tin nào đó
từ mạng xã hội, nên cẩn trọng với từng câu chữ mà mình viết nên, nên tìm
mọi cách để xác minh tính chính xác của tin, đừng chỉ vì “câu view”, “câu like” mà bỏ qua nguyên tắc và đạo đức nghề nghiệp của mình - đội ngũ những người mang “quyền lực thứ tư”?
|
Người xưa thường nói “Một trăm lời đồn chưa phải là sự thật”.
Ngày nay, ngoài tin đồn miệng, có những thông tin được đưa lên
mạng, rồi từ đó người ta lại đồn thổi, có khi thổi phòng lên,
cứ y như thật. Đó là chưa kể những sự việc có thật nhưng chỉ
là hiện tượng, người ta đưa lên thành bản chất.
Tôi đã từng gặp và xử lý nhiều
tin đồn, thư khiếu nại, nhắn tin… khi vòng chung kết cuộc thi Hoa
hậu Việt Nam bắt đầu. Tôi nhận ra rằng, rất nhiều tin đồn hay
tin nhắn đều không có thực và nhiều khi đằng sau sự thực còn
có một sự thực khác, khác hẳn.
Người làm báo chân chính cần phải
kiểm chứng cẩn thận trước khi đưa những tin, những bài dù có
nguồn gốc từ đâu, chứ nhất quyết không được đưa lên khi chưa
kiểm chứng và khi kiểm chứng phải có bằng chứng pháp lý mới
đưa. Đó là đạo đức, đó là nguyên tắc bất di bất dịch của
người làm báo.
Vi phạm điều này là vi phạm đạo đức, và có khi vi phạm cả luật pháp.
Bởi vì khi thông tin chưa được kiểm
chứng đưa lên báo tác hại rất lớn, nếu có đính chính kịp
thời vẫn gây hại cho xã hội. Vì các thông tin đó đã được lan
truyền rộng rãi.
Theo tôi trước hết mỗi người làm
báo, mỗi cơ quan báo chí phải quán triệt điều này. Sau đó,
các cơ quan quản lý cũng nhất thiết phải có những quy định,
biện pháp quản lý có hiệu quả để ngăn chặn và đẩy lùi hiện
tượng trên .
Nhà báo Dương Kỳ Anh - Nguyên Tổng Biên tập Báo Tiền phong
|
|
Việc báo chí đưa tin, ngoài việc báo lá
cải đưa để chứng tỏ thạo tin, câu view, nhưng ngay cả những tờ báo chính
thống cũng đưa tin… tăng thêm sự nhiễu loạn của xã hội, thổi thêm sự
bất bất ổn của xã hội, và làm suy giảm lòng tin của mọi thành viên trong
xã hội sống trong kỷ nguyên này.
Khi mà chúng ta đang sống trong kỷ
nguyên xã hội có rất nhiều vấn đề đáng quan tâm khác, chẳng hạn như phát
triển kinh tế xã hội bền vững, nền quốc phòng… thì khi những thông tin
này được báo chí đưa góp phần làm tăng sức nặng lên, bởi thay cho sức
nặng của tin đồn của nhóm này nhóm khác thì báo chí truyền thông trong
trường hợp này góp phần cộng hưởng làm tăng khía cạnh xấu độc suy đồi
của xã hội và làm suy giảm lòng tin của con người.
Non kém về mặt nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, sẵn sàng tung tin đó để câu view và tăng sự quan tâm của bạn đọc.
PGS-TS.Trịnh Hòa Bình, GĐ Trung tâm Dư luận xã hội (Viện Xã hội học)
|
Các cơ quan thông tin đại chúng, các tổ
chức có liên quan có hành vi bịa đặt, loan tin, đưa thông tin không đúng
sự thật về tình hình thị trường, giá cả hàng hóa, dịch vụ trên các
phương tiện thông tin đại chúng… gây hoang mang trong xã hội và bất ổn
thị trường sẽ bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng.
Trần Sỹ Tiến, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội

0 Nhận xét